Thường xuyên uống rượu bia, làm việc ở môi trường bụi bặm có dễ bị bệnh viêm phổi? | VTC Now
Thường xuyên uống rượu bia, làm việc ở môi trường bụi bặm có dễ bị bệnh viêm phổi? | VTC Now

I. Đại cương

– Bệnh bụi phổi gây ra do hít các hạt bụi vô cơ, sự tích tụ các hạt này tạo ra hai phản ứng bệnh lý. Đầu tiên là sự xơ hóa, có thể khu trú, dạng nốt như bệnh bụi silic hoặc lan tỏa như bụi amian. Phản ứng thứ hai là sự kết tập các đại thực bào chứa các hạt bụi, có thể kèm theo xơ hóa nhẹ hay không. Phản ứng này điển hình gặp các bụi có tính trơ như sắt, thiếc, barium
– Thuật ngữ bệnh bụi phổi (Pneumoconiosis) nhằm chỉ tình trạng rối loạn bệnh lý do phản ứng không ác tính của phổi với các bụi công nghiệp, gồm: bệnh bụi phổi silic (silicosis), bệnh bụi than (Coal dust anthracosis), bệnh bụi amiăng (Asbestosis), bệnh bụi phổi bông (Berylliosis). Ngoài ra có thể có bệnh bụi phổi sắt, thiếc, barium.

– Bệnh bụi phổi Amian (Asbestosis) thường gặp ở các ngành khai thác, xử lý quặng amian, xây dựng, dệt may. Mức độ nặng và tốc độ tiến triển của bệnh liên quan tới mức độ phơi nhiễm. Bệnh xảy ra khoảng 15-20 năm sau phơi nhiễm. => Case lâm sàng 1: => Case lâm sàng 2: – Bệnh bụi phổi Silic (Silicosis) là bệnh phổi dạng nốt sợi gây ra do hít phải các bụi chứa tinh thể silic. Tinh thể Silic thường gặp do phơi nhiễm khai thác than, đá granite, đá phiến, sa thạch, mỏ vàng, công nghiệp thủy tinh, gốm sứ. – Vôi hoá hạch rốn phổi khoảng: 10-20%. Hạch vối hoá có hình vỏ trứng – Có 5 tiêu chuẩn đoán hạch vôi hoá vỏ trứng (egg-shell): => Case lâm sàng 1: => Case lâm sàng 2: – Bệnh có hai dạng đơn thuần và dạng có biến chứng hay xơ hóa dạng khối tiến triển. * Mật độ tổn thương * Vùng tổn thương: mỗi phổi được chia làm 3 vùng trên – giữa, – dưới. * Hình dạng và kích thước tổn thương + Loại q: đường kính nốt mờ: 1.5 – 3mm + Loại r: đường kính nốt mờ > 3mm – Nốt mờ không đều – Đám mờ lớn là đám mờ có kích thước lớn nhất > 10mm. * Mảng màng phổi (Pleural plaque) – Hoặc biểu hiện vôi hóa dạng đường nếu chụp tiếp tuyến. Vôi hóa màng phổi nằm ở ngoại vi dọc theo khung xương sườn, theo màng phổi trung thất hoặc hoành. => Case lâm sàng 1: => Case lâm sàng 2: – Mức độ dày màng phổi (chỉ thành ngực bên): * Bất thường góc sườn hoành * Dày màng phổi lan tỏa => Case lâm sàng 1:

II. Bụi phổi Amian
– Triệu chứng lâm sàng có thể gặp là: tràn dịch màng phổi, thở ngắn, khó thở, ho có đờm hoặc không, tim phổi mạn.
– Biểu hiện tổn thương X-quang dưới 2 dạng: các đám mờ nhỏ và lớn.
+ Đám mờ nhỏ: có thể hình tròn (dạng nốt) hoặc không đều (dạng lưới). Xuất hiện ở 3 giai đoạn: Giai đoạn sớm có hình lưới mảnh nằm ở vùng phổi dưới kèm theo hình ảnh kính mờ. Giai đoạn tiếp theo các đám mờ nhỏ không đều trở nên nổi bật hơn tạo thành nốt – lưới. Giai đoạn muộn, hình lưới nặng nề hơn và liên quan tất cả các vùng phổi. Lớn hạch rốn phổi hiếm gặp trên X-Quang, tuy nhiên các hạch trung thất > 1.2cm thường gặp trên cắt lớp vi tính.
+ Đám mờ lớn: ít gặp, thường kèm tổn thương dạng lưới và mảng màng phổi, kích thước rất khác nhau. Khối xơ hóa trong nhiễm bụi Amian không ư thế ở vùng trung tâm, vùng trên phổi và không tạo hang.
– Hình ảnh tổn thương màng phổi có thể gặp dưới 4 dạng:
+ Các mảng màng phổi: dày < 1cm, bờ nhẵn hay dạng nốt, đối xứng, nằm ở thành ngực sau bên, dọc theo xương sườn
+ Dày lan tỏa màng phổi
+ Dày rãnh liên thùy
+ Tràn dịch màng phổiIII. Bụi phổi Silic
– Tại các nước đang phát triển, biện pháp ngăn chặn bụi không hiệu quả, nồng độ bụi hô hấp cao, công nhân thường phải làm việc gắng sức, nguy cơ mắc bệnh bụi phổi tăng cao. Tỉ lệ ở 1 số nước đang phát triển là: Bolivia năm 1984: 7,6% công nhân mỏ thiếc, ấn độ năm 1985: 30,4% công nhân mỏ chì; Thái Lan năm 1986: BBPSi chiếm 2,1% công nhân mỏ than, 9,3% công nhân sản xuất gạch .
– Ở Việt nam theo y văn của Viện Y học lao động và môi trường hầu hết các cơ sở sản xuất có nồng độ bụi silic vượt quá giới hạn cho phép. Năm 1970 BBPSi chiếm 1,3% công nhân sản xuất đồ gốm, 3,5% công nhân mỏ. Tính đến năm 1989 đã có 4184 trường hợp mắc bệnh, chiếm 89,84% các bệnh nghề nghiệp được giám định.
– Hình ảnh X-quang điển hình là rất nhiều nốt bờ rõ, đậm độ khá đồng nhất, kích thước từ 1-10mm. Tổn thương ưu thế ở thùy trên mặc dù dạng lan tỏa cũng có thể gặp. Dạng các nốt nhỏ tròn hay không đều thường gặp trong bệnh bụi phổi do bụi Silic đơn thuần.
– Trong trường hợp biến chứng, đặc trưng bởi bóng mờ lớn hơn, hợp lưu và tạo các khối xơ hóa. Các đám mờ biểu hiện như vùng đông đặc đồng nhất, phân bố không theo phân thùy, kích thước > 1cm. Đôi khi tổn thương rất lớn và có thể tạo hang. Bờ tổn thương thường không đều, vờ với hình ảnh nhiều chân giả ở bờ. Tổn thương xơ phổi dạng khối càng nhiều, càng ít gặp tổn thương dạng nốt.
– Hai dạng khác của bệnh bụi phổi Silic là nốt phổi trong hội chứng Caplan và bệnh Silic cấp tính. Tổn thương dạng nốt trong hội chứng Caplan gồm các nốt phổi hoại tử, kích thước lớn, trên nền bệnh bụi phổi Silic đơn thuần. Dạng bệnh lý cấp tính là hình ảnh tổn thương khoảng khí lan tỏa giống như bệnh protein phế nang.
+ Có ít nhất 2 hạch lympho bờ vôi hoá dầy tới 2mm.
+ Bờ vôi hoá có thể liên tục hoặc gián đoạn.
+ Phải có ít nhất 1 hạch vôi hoá có bờ vôi khép kín.
+ Ở vùng trong của hạch vôi hoá có thể có vôi hoá.
+ Phải có 1 hạch vôi hoá đường kính tới 1cm.IV. Bụi phổi mỏ than
– Hai hình thái biểu hiện bệnh là các chấm than và khối xơ hóa tiến triển.
– Hình ảnh X-Quang điển hình là các nốt mờ tròn, kích thước 1-5mm, đôi khi có dạng lưới. Mặc dù các nốt trong bụi than ít rõ, ít đồng nhất hơn so với bụi Silic. Ngấm vôi các nốt có thể gặp khoảng 10-20%. Ngấm vôi thường bắt đầu ở vùng trung tâm của nốt, khác với Silic ngấm vôi thường lan tỏa. Ngấm vôi dạng vỏ sò ở các hạch lớn ít gặp.
– Khối xơ hóa tiến triển có kích thước tối thiểu khoảng 1cm đến toàn bộ một thùy phổi và hầu như luồn nằm ở nửa trên của phổi. Các khối xơ tiển triển điển hình bắt đầu từ ngoại vi của phổi như là khối choán chỗ với bờ ngoài nhẵn, rõ, song song với khung sườn và cách khoảng 1-3cm. Bờ trong tổn thương thường không rõ. Tổn thương có khuynh hướng di chuyển vào vùng rốn phổi, tạo vùng ứ khí ở giữa tổn thương và thành ngực.V. Phim bụi phổi1. Đám mờ nhỏ
– Là độ tập trung của các tổn thương dạng nốt so với phim mẫu.
+ Loại 0: không có nốt mờ hoặc ít hơn loại 1.
+ Loại 1,2,3: mật độ nốt mờ tăng dần so với phim mẫu.
– Nốt mờ tròn đều
+ Loại p: đường kính nốt mờ ≤ 1.5mm
+ Loại s: đường kính nốt mờ ≤ 1.5mm
+ Loại t: đường kính nốt mờ: 1.5 – 3mm
+ Loại u: đường kính nốt mờ > 3mm2. Đám mờ lớn
+ Loại A: đám mờ có kích thước 10mm-50mm
+ Loại B: đám mờ có kích thước > 50mm nhưng không vượt quá vùng trên phổi phải hoặc tổng kích thước đám mờ lớn không vượt quá vùng trên phổi phải.
+ Loại C: đám mờ có kích thước vượt quá vùng trên phổi phải hoặc một vài đám mờ lớn có tổng kích thước vượt quá vùng trên phổi phải.3. Màng phổi
– Là hình ảnh dày màng phổi khu trú, thường là tổn thương là thành màng phổi.
– Vị trí: mảng màng phổi có thể thấy tại góc sườn hoành, màng phổi thành ngực bên, màng phổi thành ngực trước, màng phổi trung thất, màng phổi cơ hoành.
– Canxi hóa: dày màng phổi có thể kèm theo canxi hóa. Đôi khi chỉ có thể phát hiện được khi bị canxi hóa – khi có canxi hóa mảng màng phổi tức là có dày màng phổi tại vùng canxi đó.
– Hình mờ đậm, không đều nhưng giới hạn rõ và có xu hướng chạy xuống dưới, không liên quan tới các cấu trúc nhu mô phổi.
+ Loại a: 3-5mm
+ Loại b: 5-10mm
+ Loại c: > 10mm
– Mức độ lan tỏa tổn thương: chỉ ghi lại mức độ lan tỏa với màng phổi thành ngực trước và thành ngực bên.
+ Loại 1: tổng chiều dài các mảng màng phổi thành ngực bên < 1/4 thành ngực.
+ Loại 2: tổng chiều dài các mảng màng phổi thành ngực bên 1/4-1/2 thành ngực.
+ Loại 3: tổng chiều dài các các mảng màng phổi thành ngực bên > 1/2 thành ngực.
– Hình ảnh tù và đám mờ góc sườn hoành.
– Nếu dày màng phổi lan lên thành ngực từ góc sườn hoành, dày màng phổi được xếp là dày màng phổi lan tỏa.
– Dày màng phổi lan tỏa theo cổ điển là dày lá tạng màng phổi.
– Dày màng phổi lan tỏa lên thành ngực bên chỉ được ghi nhận khi có hình ảnh này liên tục từ góc sườn hoành có hình mờ.Hình ảnh bệnh lý ↵

– Bệnh bụi phổi Amian (Asbestosis) thường gặp ở các ngành khai thác, xử lý quặng amian, xây dựng, dệt may. Mức độ nặng và tốc độ tiến triển của bệnh liên quan tới mức độ phơi nhiễm. Bệnh xảy ra khoảng 15-20 năm sau phơi nhiễm.

=> Case lâm sàng 1:

[gallery link="file" ids="152326,152327,152328"]

=> Case lâm sàng 2:

[gallery link="file" columns="4" ids="152330,152332,152333,152334"]

– Bệnh bụi phổi Silic (Silicosis) là bệnh phổi dạng nốt sợi gây ra do hít phải các bụi chứa tinh thể silic. Tinh thể Silic thường gặp do phơi nhiễm khai thác than, đá granite, đá phiến, sa thạch, mỏ vàng, công nghiệp thủy tinh, gốm sứ.

– Vôi hoá hạch rốn phổi khoảng: 10-20%. Hạch vối hoá có hình vỏ trứng

[gallery link="file" ids="152407,152323,152320,152321,152322,156889"]

– Có 5 tiêu chuẩn đoán hạch vôi hoá vỏ trứng (egg-shell):

=> Case lâm sàng 1:

[gallery link="file" columns="2" ids="124367,124366"]

=> Case lâm sàng 2:

[gallery link="file" columns="4" ids="152303,152304,152305,152307,152308,152309,152310"]

– Bệnh có hai dạng đơn thuần và dạng có biến chứng hay xơ hóa dạng khối tiến triển.

* Mật độ tổn thương

* Vùng tổn thương: mỗi phổi được chia làm 3 vùng trên – giữa, – dưới.

* Hình dạng và kích thước tổn thương

+ Loại q: đường kính nốt mờ: 1.5 – 3mm

[gallery link="file" ids="98459,98460,98461"]

+ Loại r: đường kính nốt mờ > 3mm

[gallery link="file" ids="98462,98464,98465"]

– Nốt mờ không đều

– Đám mờ lớn là đám mờ có kích thước lớn nhất > 10mm.

* Mảng màng phổi (Pleural plaque)

– Hoặc biểu hiện vôi hóa dạng đường nếu chụp tiếp tuyến. Vôi hóa màng phổi nằm ở ngoại vi dọc theo khung xương sườn, theo màng phổi trung thất hoặc hoành.

[gallery link="file" ids="113174,98480,124347,124348,124371,124372"]

=> Case lâm sàng 1:

[gallery columns="5" link="file" ids="113156,113150,113151,113152,113153"]

=> Case lâm sàng 2:

[gallery link="file" columns="5" ids="113185,113186,113187,113188,113189"]

– Mức độ dày màng phổi (chỉ thành ngực bên):

* Bất thường góc sườn hoành

* Dày màng phổi lan tỏa

=> Case lâm sàng 1:

[gallery link="file" columns="2" ids="79615,79616"]

Tài liệu tham khảo

* Bệnh bụi phổi – PGS.TS Phạm Ngọc Hoa
* Inhalational Talc Pneumoconiosis: Radiographic and CT Findings in 14 Patients – Pneumoconiosis: Comparison of Imaging and Pathologic Findings – Semin Chong, MD, Kyung Soo Lee, MD, Myung Jin Chung, MD
* Silicosis: Radiographic findings and the use of the International Labour Organization Classification 2011 – V. de Lara Bendahan, C. Gomez de las Heras, L. Garcia Camacho
* Silicosis: A pictorial review – M. Barral, M. Rodriguez Castilla, J. Garcia Serrano
* Silicosis: a pictorial review – R. Correia, M. S. C. Rodrigues, C. Esteves, A. F. S. Simões, M. Pimenta; Porto/PT
* Features of computed tomography and PET/CT in diagnostics of silicosis – A. Kovaleva; Moscow/RU
* HRCT findings of p-nodules in the patients with simple pneumoconiosis – Y. Kim, S. J. Kim; Chungju-si/KR, Cheongju-si, Chungbuk/KR
* Complications of Pneumoconiosis: Radiologic Overview – J. S. JUN, J. I. Jung, H. R. KIM, M. I. Ahn, D. H. Han, J. M. KO, S. H. Park; SEOUL/KR
* Asbestos exposure: anotherone bites the dust – C. E. Paradisi-Chacon, B. Madariaga
* Silicosis, radiological findings in Chest radiograph and MDCT – J. A. Guirola, V. Mayoral Campos, C. Bonnet Carron
* Silicosis, radiological findings in Chest radiograph and MDCT – J. A. Guirola, V. Mayoral Campos, C. Bonnet Carron
* MDCT in silicosis and findings – D. Cardoso, D. Silva, A. C. Mota
* Lungs at Work- Insight into imaging of Occupational Lung Diseases – G. Ilangovan, S. Ranjan; Chennai, TA/IN
* Radiological pulmonary manifestations of scleroderma and synchronic pneumoconiosis – A. Narbona Diez, P. Trallero , L. Ceron Nasarre

Bạn đang xem bài viết: Bụi Phổi | Bài giảng CĐHA. Thông tin được tạo bởi An Tâm chọn lọc và tổng hợp cùng với các chủ đề liên quan khác.